Tuần 11 - Ngày 17/10/2019
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Nghiên cứu sinh
Xu hướng mới trong đào tạo tiến sĩ trên thế giới: Tái định hình khái niệm
30/01/2015


Trong mấy năm gần đây, có ba hiện tượng nổi bật trong vấn đề đào tạo tiến sĩ trên phạm vi toàn thế giới: một là vai trò chủ động của chính phủ nhiều nước trong việc xác lập những kế hoạch và mục tiêu đầy tham vọng nhằm tạo ra một số lượng lớn người có bằng tiến sĩ; hai là hiện tượng ngày càng nhiều tiến sĩ làm việc ngoài khu vực hàn lâm; và cuối cùng là hiện tượng “lạm phát bằng tiến sĩ” hay nói cách khác, sự “mất giá” của bằng tiến sĩ trong mắt công chúng, nhất là ở những nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mặc dù thiếu thốn nguồn nhân lực chất lượng cao, những người có bằng tiến sĩ không còn được kính trọng như xưa. Một câu hỏi đập vào mắt tất cả mọi người: Chúng ta đang có quá ít, hay quá nhiều tiến sĩ? Đàng sau câu hỏi này là một vấn đề quan trọng hơn nhiều: chúng ta quan niệm thế nào là tiến sĩ? Khái niệm “tiến sĩ” chứa đựng những giá trị, chuẩn mực, kỳ vọng gì và nó đã diễn tiến như thế nào qua thời gian? Liệu cái cách mà chúng ta đang đào tạo tiến sĩ có đáp ứng được những gì xã hội thực sự cần, và nếu như phải thay đổi, chúng ta có những lựa chọn như thế nào?  Đó là những vấn đề được thảo luận trong Hội thảo về Đào tạo Tiến sĩ: Vấn đề Chính sách, Sư phạm, và Thực tế, do Khoa Sau ĐH, trường ĐH RMIT (Australia) tổ chức tại Melbourne ngày 11 và 12.12.2014, với sự tham dự của các học giả Australia, UK, New Zealand, Ethiopia, Malaysia và Việt Nam. Bài viết này là ghi nhận và suy nghĩ về một số vấn đề đã được nêu ra và thảo luận tại Hội thảo.


Sứ mạng của tiến sỹ là tìm kiếm tri thức nhằm phát triển học thuật  

Quan niệm về tiến sĩ và mô hình đào tạo tiến sĩ

Trước hết là một bức tranh toàn cảnh, những điểm hội tụ và phân kỳ trong vấn đề đào tạo tiến sĩ trên toàn cầu, do giáo sư Denise Cuthbert, Trưởng khoa Sau Đại học của trường ĐH RMIT (Australia) trình bày. Sự trỗi dậy và lan rộng mọi nơi của nền kinh tế tri thức từ giữa những năm 90 đã dẫn đến việc định vị lại GDĐH như một thành tố quan trọng của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, là điều có ý nghĩa to lớn đối với sự hiểu biết của chúng ta về đào tạo tiến sĩ cũng như việc quản lý quá trình này. Kinh tế tri thức cũng khiến cho năng lực nghiên cứu của các trường ĐH trở thành đối tượng quan tâm của chính sách ở mọi cấp: cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp độ toàn cầu; hay nói cách khác, vấn đề đào tạo tiến sĩ đã trở thành một vấn đề chính trị trên toàn cầu.

Bởi vậy, từ những năm 90 trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến mối quan tâm có ý nghĩa chính trị to lớn chưa từng có tiền lệ trước đó đối với việc đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là ở những nền kinh tế mới nổi hay các nước đang phát triển như khu vực châu Á và tiểu vùng châu Phi. Cuthbert đã thu thập hơn 200 văn bản chính sách của các nước về vấn đề đào tạo tiến sĩ từ 1996 đến nay. Ở Australia, đã có ít nhất 30 văn bản chính sách chủ yếu có liên quan vấn đề này từ năm 1998 đến nay. Các tổ chức châu Âu như LERU, EUA cũng có những hành động chính sách mạnh mẽ về đào tạo tiến sĩ. Châu Á càng nổi bật hơn với những chính sách tăng cường tiến sĩ: Chương trình Trí tuệ Hàn Quốc dự định đào tạo 1300 tiến sĩ mỗi năm trong thời gian 1998-2005; Malaysia nhắm tới 60.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2023, Ấn Độ đặt mục tiêu 20.000 tiến sĩ trước năm 2020, Zimbabue đòi hỏi tất cả giảng viên của mình phải có bằng tiến sĩ trước năm 2015. South Africa cũng cho thấy sự quan tâm mạnh mẽ của chính sách đào tạo tiến sĩ và coi đó như một động lực của nền kinh tế (Tebeje Molla, Deakin University, Australia).

Đồng thời, câu hỏi về việc những người có bằng tiến sĩ đã phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế tri thức như thế nào và cuộc thảo luận gần đây về khả năng được sử dụng, khả năng tìm được việc làm phù hợp của các tiến sĩ cũng ngày càng trở nên nổi bật. Khái niệm truyền thống về học vị tiến sĩ coi họ như những người nghiên cứu chuyên nghiệp và sứ mạng của họ là tìm kiếm tri thức nhằm phát triển học thuật, coi tri thức là mục tiêu tối hậu, không nhất thiết là tri thức đó phải tạo ra một lợi ích vật chất cụ thể nào, “research for its own sake”, nghiên cứu vì lợi ích của chính nó, chứ không nhằm vào một mục đích cụ thể, quan niệm này đã từng thống trị giới hàn lâm trong nhiều thế kỷ đến mức thậm chí có học giả cho rằng những người hướng nghiên cứu của mình vào việc phục vụ cho những người đương thời là những kẻ “đánh đĩ tri thức” (“intellectual prostitutes”, Dugatkin, 1999), tức bán linh hồn cho những mục tiêu ngắn hạn trước mắt.

Quan niệm cực đoan như thế của trường phái “tháp ngà” ngày nay hầu như không còn chỗ đứng. Tuy nhiên, nó đã phản ánh một thực tại là trong nhiều thế kỷ qua, chỗ làm của các tiến sĩ chủ yếu là ở các trường ĐH và viện nghiên cứu. Ngày nay, kinh tế tri thức đòi hỏi một lực lượng lao động có kỹ năng cao trong việc nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao tri thức. Dường như khu vực sản xuất kinh doanh bên ngoài nhà trường ngày càng cần những người được đào tạo kỹ năng nghiên cứu bậc cao như các tiến sĩ. Lối đào tạo tiến sĩ theo kiểu hàn lâm truyền thống đã không chú ý đến việc đào tạo những kỹ năng đa dạng và linh hoạt để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới việc làm bên ngoài trường ĐH, thậm chí ngay cả những kỹ năng cơ bản để thực hiện nhiệm vụ truyền thống của các tiến sĩ như kỹ năng giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu, họ cũng không được đào tạo bài bản. Bởi vậy, đang có một khoảng cách giữa mô hình đào tạo tiến sĩ hiện nay và những gì các tiến sĩ có thể mang lại cho thế giới việc làm ngoài nhà trường.

Ở châu Âu, đào tạo tiến sĩ cũng không còn đơn thuần là một vấn đề học thuật, mà là một mục tiêu trong việc quản lý trường ĐH và của chính sách quốc gia. Số người có bằng tiến sĩ đang được coi là chỉ báo hoạt động của các trường ĐH cũng như cho năng lực nghiên cứu của quốc gia. Barbara Kehm (University of Glasgow, UK) cho rằng, trong bối cảnh của Tiến trình Bologna, ngày càng nhiều ý kiến phê phán lối đào tạo tiến sĩ theo kiểu truyền thống: quá hẹp, quá nhấn mạnh đến luận án thay vì phải chú trọng đến quá trình đào tạo. Kehm cho rằng ở châu Âu, đào tạo tiến sĩ đang trở nên rất đa dạng về mục đích và mô hình: có đến 9 loại tiến sĩ khác nhau đã được nêu ra: loại tiến sĩ nghiên cứu hàn lâm kiểu truyền thống, loại tiến sĩ được đào tạo để dạy học, loại tiến sĩ được cấp bằng dựa trên số bài báo khoa học đã tích lũy được, loại tiến sĩ chuyên ngành (trong những lĩnh vực chuyên nghiệp rất hẹp và rất đặc thù, ví dụ tiến sĩ y khoa), loại tiến sĩ trên nền tảng hoạt động thực tiễn (trong các ngành nghệ thuật và thiết kế), loại tiến sĩ “tốc hành”, và loại tiến sĩ của các chương trình liên kết, loại tiến sĩ hợp tác, và tiến sĩ trong khu vực doanh nghiệp. Sự đa dạng này là một dấu hiệu của phân tầng về chức năng, và cho thấy hoạt động đào tạo tiến sĩ ngày nay không còn đơn thuần là tái sản xuất lực lượng lao động chỉ cho nghề nghiệp hàn lâm như xưa nữa. Tuy nhiên, hầu như tất cả các loại tiến sĩ trừ loại truyền thống đều bị phê phán dữ dội về việc thiếu sự nghiêm ngặt trong tiêu chuẩn và quá trình đào tạo. Sự phê phán này rút cuộc dẫn đến câu hỏi: thế nào là tiến sĩ?

Có một xu hướng khác ở một vài nước đang phát triển là một quan niệm ngày càng phổ biến coi bằng tiến sĩ là một thứ trang sức sang trọng (Ly Phạm, ĐHQG-HCM, Việt Nam). Thêm vào đó, những diễn tiến trong thái độ xã hội đối với người có bằng tiến sĩ; hiện tượng một phần ba tiến sĩ du học ngoài nước bằng tiền ngân sách đã không trở về, hoặc trở về nhưng không được sử dụng đầy đủ; và chỉ hơn một phần ba người có bằng tiến sĩ làm việc trong khu vực hàn lâm, số còn lại chủ yếu trong khu vực hành chính công, những sự kiện này ở Việt Nam cũng đòi hỏi sự xem xét lại một cách nghiêm túc quan niệm về bằng tiến sĩ.

“Tiến sĩ” gắn chặt với hoạt động nghiên cứu. Nhưng thế nào là nghiên cứu? Giáo sư Ross Gibson (University of Canberra, Australia) dẫn ra hai định nghĩa về nghiên cứu: một là định nghĩa khá nghiêm ngặt của Nhóm Công tác Tài trợ Nghiên cứu Khoa học dựa trên kết quả hoạt động của các trường ĐH New Zealand nêu ra năm 2002:  “Nghiên cứu là những điều tra nguyên thủy được thực hiện nhằm đạt được kiến thức và sự hiểu biết. Hoạt động nghiên cứu thường gắn với đòi hỏi thực nghiệm hoặc có bản chất phê phán, được dẫn dắt bởi những giả thuyết hay bởi những cương vị của trí tuệ có thể đưa ra một sự đánh giá nghiêm ngặt. Nó là một hoạt động sáng tạo, độc lập, tích lũy lâu dài và được thực hiện bởi những người có kiến thức sâu trong chuyên ngành, am hiểu lý thuyết, phương pháp, và có nhiều thông tin trong lĩnh vực mà họ đang tìm kiếm tri thức. Kết quả nghiên cứu phải được mở ra cho sự sàng lọc và đánh giá chính thức của những người khác trong cùng lĩnh vực, và điều này có thể thực hiện thông qua công bố khoa học hoặc trình bày trước công chúng. Trong một số lĩnh vực, kết quả khảo sát có thể nằm trong hình thức tác phẩm nghệ thuật, thiết kế hay trình diễn. Hoạt động nghiên cứu bao hàm cả những đóng góp cho hạ tầng trí tuệ của chuyên ngành (ví dụ như từ điển hay những sách được dùng như công cụ tra cứu). Nó cũng bao gồm những thiết kế thực nghiệm, những giải pháp xây dựng, và cả những điều tra khảo sát dẫn đến những vật liệu mới hay cải thiện nó một cách đáng kể, những bộ phận mới, những sản phẩm hay quy trình mới”.

Định nghĩa thứ hai là của Bộ Nghiên cứu Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo Liên bang Úc, đưa ra năm 2011: “Nghiên cứu được định nghĩa là sự sáng tạo ra tri thức mới, và/hoặc sử dụng những tri thức hiện có theo một cách mới và có tính sáng tạo để tạo ra những khái niệm mới, phương pháp mới, và những hiểu biết mới. Nó có thể bao gồm tổng hợp và phân tích những kiến thức đã có trước đó ở mức độ dẫn tới những kết quả mới và có tính chất sáng tạo”.

Dựa trên những định nghĩa này, hoàn toàn có thể định hình lại quan niệm về bằng tiến sĩ cũng như về quy trình, phương pháp sư phạm, tiêu chuẩn đánh giá, mô hình đào tạo phù hợp với những mục đích khác nhau.

Denise Curbert nêu lên một hình dung mới về tiến sĩ trong nền kinh tế tri thức như một hình thức đối lập với tiến sĩ hàn lâm theo truyền thống. Sự khác biệt này được bà nêu ra như sau:


Ý tưởng về việc cần có những loại tiến sĩ khác nhau, những con đường sự nghiệp khác nhau cho họ là một ý tưởng được nhiều người chia sẻ. Barbara Kehm (University of Glasgow, UK), Morshidi Sirat (Viện Nghiên cứu GDĐH Quốc gia Malaysia), Ly Phạm (ĐHQG-HCM, Việt Nam) và Tebeje Molla (Deakin University, Australia) đều nói về nhu cầu đa dạng hóa đào tạo tiến sĩ trong bối cảnh phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức.  Trong bối cảnh Việt Nam, quả là lãng phí nếu người học phải theo đuổi một chương trình tiến sĩ chỉ để có một tấm bằng, trong lúc những gì được đào luyện thì không có mấy liên quan đến những gì họ thực sự cần cho con đường mà họ thực sự theo đuổi. Thay vào đó, cần có những lối đi khác, cách tiếp cận khác, phương pháp sư phạm khác, có ý nghĩa thiết yếu hơn cho chính họ và cho tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh của Malaysia và các nước tiểu vùng châu Phi, sự đa dạng nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ giữa trường ĐH và giới doanh nghiệp, giữa nghiên cứu và ứng dụng, đổi mới, sáng tạo trong khu vực sản xuất kinh doanh, còn trong bối cảnh Việt Nam, sự đa dạng này cần nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ giữa trường ĐH với cộng đồng xã hội nói chung, trước một thực tế là một số lớn những người có bằng tiến sĩ đã không làm việc trong khu vực hàn lâm, cũng không làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, mà là trong khu vực hành chính công.

Hình dung về tiến sĩ từ góc nhìn sư phạm và thực tiễn

Hội thảo cũng bàn đến những giá trị và kỳ vọng, những chuẩn mực mà xã hội và giới hàn lâm đặt ra với học vị tiến sĩ, chương trình và quy trình đào tạo tiến sĩ.

Trước hết là vấn đề động lực. Robyn Barnacle và Denise Cuthbert (RMIT University, Australia) thực hiện một nghiên cứu với 403 nhà nghiên cứu xuất sắc nhất ở khoảng giữa sự nghiệp, gần một nửa dưới 40 tuổi, và một nửa tuổi từ 41-50, thuộc mọi lãnh vực ở Australia. Kết quả cho thấy, động lực của các nhà nghiên cứu khá đa dạng, từ chỗ thỏa mãn nhu cầu tri thức hay khẳng định bản thân, cho đến ý thức về sự cống hiến tất yếu, trong đó cái thứ nhất được nhấn mạnh hơn. Có ba xu hướng động lực chính: động lực bản thân, động lực quá trình, và động lực kết quả. Kết quả này đặt ra câu hỏi là động lực nào được xem là đáng mong muốn trong việc đào tạo những người nghiên cứu, và chương trình đào tạo nghiên cứu có vai trò gì trong việc nuôi dưỡng những động lực ấy.

Từ góc nhìn của nghiên cứu sinh, họ đã đặt những niềm tin và hy vọng gì, và trải nghiệm của họ trong quá trình theo đuổi bằng tiến sĩ gợi ra cho chúng ta điều gì? Cat Mitchell (University of Auckland, New Zealand) nói về những hy vọng mà nghiên cứu sinh ấp ủ, đặc biệt với những nghiên cứu sinh là người đầu tiên trong gia đình vào đại học, bằng tiến sĩ chẳng những là hy vọng của chính họ, mà còn là kỳ vọng và mong đợi của cả gia đình và có khi cả dòng họ, quê hương. Đối với nhiều người, theo đuổi bằng tiến sĩ là một giấc mơ, và giấc mơ thầm kín ấy đã đóng vai trò là động lực giúp họ vượt qua trở ngại khó khăn. Nghiên cứu của Mitchelle cho thấy nhiều nghiên cứu sinh đã chọn theo đuổi bằng tiến sĩ vì họ tin rằng đó là cây cầu dẫn đến một nghề nghiệp vẻ vang, được xã hội tôn trọng, được bù đắp xứng đáng về lương bổng. Những hình dung về tiến sĩ ấy hình thành trong bối cảnh trường ĐH (định hình bởi các chính sách, cách tuyển sinh, điều lệ nhà trường, v.v.) lẫn một bối cảnh văn hóa xã hội lớn hơn (tiểu thuyết, phim ảnh, các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v.) đã tạo ra một quan niệm về việc thế nào là tiến sĩ trong công chúng (Frances Kelly, University of Auckland, New Zealand).

Trong việc hướng dẫn nghiên cứu sinh, Catherin Manathunga (Victoria University, Australia) đề xuất một cách tiếp cận liên văn hóa, nhấn mạnh rằng toàn cầu hóa đã khiến cho nghiên cứu sinh quốc tế chiếm một số lượng ngày càng lớn. Ngày càng nhiều giáo sư hướng dẫn làm việc với các nghiên cứu sinh có một nền tảng văn hóa hoàn toàn khác biệt, vì vậy cần hiểu biết đầy đủ hơn những yếu tố liên đới: thời gian, nơi chốn, và kiến thức. Tác giả khích lệ các học giả phương Tây có một thái độ thách thức với niềm tin về những kiến thức được cho rằng đó là chân lý phổ quát cho mọi nơi và mọi thời đại. Một thực tế khác tương tự cũng được nêu lên, là hiện tượng “nô dịch hóa” trong nghiên cứu (Robin Barnacle, RMIT, Australia), “thực dân hóa” (Barbara Grant, University of Auckland, New Zealand), hay là coi nghiên cứu sinh như những “nô lệ”. Các nước có nền GDĐH tiên tiến như Hoa Kỳ, UK, Australia đang dựa vào nghiên cứu sinh quốc tế để thực hiện những nghiên cứu cải tiến công nghệ dưới nhiều hình thức khác nhau, và có khi xem họ như những lao động bậc cao rẻ tiền. Quan hệ giữa giáo sư hướng dẫn và nghiên cứu sinh có thể khác nhau khá nhiều, từ cực này đến cực khác. Vì nghiên cứu sinh được xem là phải thực hiện những nghiên cứu độc lập, có những giáo sư mặc dù có vai trò rất quan trọng trong công trình nghiên cứu của học trò, hầu như không được nhắc đến. Ngược lại, có những người “cướp công” của nghiên cứu sinh. Có những giáo sư hầu như không hướng dẫn gì, có người ngược lại rất tận tình chỉ dạy và truyền đạt kinh nghiệm. Bởi vậy, chất lượng của việc hướng dẫn nghiên cứu sinh đang là mối lo ngại của nhiều trường ĐH. Từ năm 1985, University of Auckland ở New Zealand đã có Sổ tay Hướng dẫn Nghiên cứu sinh do Hội đồng Giảng viên của trường phê duyệt. Văn bản này được bổ sung sửa chữa nhiều lần từ năm 1992 đến 2014, vốn dài 1 trang nay lên đến 5 trang! Danh sách những thứ “phải là” dành cho giáo sư hướng dẫn tăng từ 8 lên đến 22, qua 5 lần sửa đổi (Barbara Grant, University of Auckland).

Thực tế trên đây cho chúng ta thấy, bức tranh về đào tạo tiến sĩ trên toàn thế giới đã khác rất nhiều so với cách đây vài thập niên, nhưng không phải ai cũng nhận thức rõ được điều này. Trong hai mươi năm qua chính sách nhiều nước đã đồng quy ở một điểm, đó là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo tiến sĩ, coi đó là một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Kinh tế tri thức như một đặc điểm của thời đại là yếu tố trọng yếu đã thúc đẩy việc đào tạo tiến sĩ và đặt ra cho nó những đòi hỏi to lớn trong việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, dẫn dắt các hoạt động sáng tạo và đổi mới nhằm nâng cao năng suất. Điều này kích thích chúng ta xem xét lại những hình dung, kỳ vọng và giá trị mà xã hội đã và đang đặt vào học vị tiến sĩ như một đỉnh cao của kiến thức học thuật. Thật đáng ngạc nhiên là hiện nay có rất ít nghiên cứu về chủ đề trên. Hội thảo này là một diễn đàn nhỏ của các nhà chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực đa ngành, có am hiểu về giáo dục quốc tế, có sự gắn bó mạnh mẽ với sự nghiệp nghiên cứu, là một nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề chưa được biết rõ, những vấn đề có thể dẫn tới sự đổi thay phù hợp hơn trong chính sách, trong quan niệm về học vị tiến sĩ, trong quá trình đào tạo tiến sĩ và sử dụng những người có bằng tiến sĩ như thế nào để đáp ứng với những đòi hỏi, kỳ vọng và thay đổi của xã hội.

Phạm Thị Ly
Nguồn:
http://www.her.ntt.edu.vn/vn/?p=461#more-461


Cập nhật ( 30/01/2015 )
 
Tin đã đưa:
“ Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ.”
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com