Tuần 46 - Ngày 19/06/2024
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Bộ Xây dựng cung cấp 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4
+ NĐ 109/2022/NĐ-CP quy định về hoạt động KHCN trong cơ sở giáo dục ĐH
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Truyền thuyết Kiến trúc kho báu Chùa Một Cột
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Quy hoạch đô thị
Quá trình đô thị hoà Hà Nội và những thách thức về kết cấu hạ tầng để đô thị phát triển bền vững
28/11/2014

Trong lịch sử phát triển thế giới, đô thị hóa đã phát sinh ngay trong thời kỳ văn minh nông nghiệp. Trải qua các thời kỳ tiền công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp, hậu công nghiệp và hiện đại, đô thị hóa đã có vai trò quan trọng song hành cùng với sự phát triển không gian kinh tế - văn hóa – xã hội. Đô thị hóa là quá trình tiến triển về kinh tế, không gian vật thể gắn với phát triển khoa học – kỹ thuật, phát triển nghề nghiệp mới, chuyển dịch cơ cấu lao động phát triển văn hóa – lối sống, cơ chế quản lý và kết cấu hạ tầng mới. Đô thị hóa nhanh hay chậm tùy thuộc từng thời kỳ và từng khu vực. Đến nay Châu Á nói chung đang là khu vực đô thị hóa nhanh. Việt Nam từ sau thống nhất đất nước, nhất là từ sau giai đoạn “đổi mới: thì đô thị hóa càng được đẩy mạnh hơn gắn kết hội nhập với công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 1986 cả nước có gần 400 đô thị với dân số đô thị hơn 11 triệu trong tổng số dân là hơn 61 triệ (=19%) thì đến 2013 đã có tới 770 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa là 33,47% và định hướng đến 2025 cả nước có khoảng 1000 đô thị, dân số đô thị khoảng 52 triệu chiếm 50% dấn số cả nước. Quá trình đô thị hóa đã tạo nên nhiều tiền năng, động lực, cơ hội để phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội, song cũng bộc lộ những thách thức cần quan tâm trong giai đoạn tới.


Ảnh minh hoạ

Đô thị ở Việt Nam hình thành sớm hơn so với nhiều nước trên thế giới nhưng tốc độ đô thị hóa chậm do chịu nhiều lực cản và có đăch trưng riêng. Giai đoạn phong kiến đã xây dựng nền nông nghiệp chủ đạo, văn minh lúa nước có bản sắc dân tộc, đô thị hòa đồng với nông thôn, cơ cấu lao động chưa phân hóa rõ ràng, đô thị hóa chưa tiếp cận với cách mạng khoa học kỹ thuật. Giai đoạn thuộc địa đã có đóng góp thúc đẩy KHKT nhưng tạo nên nền kinh tế phụ thuộc, tự sản tự tiêu không khuyến khích công nghiệp nên hệ thống đô thị chủ yếu là hành chính và nhỏ bé. Sau cách mạng nước ta lại bước vào giai đoạn chiến tranh, dân số bị xáo trộn, tốc độ đô thị hóa chậm. Hòa bình lập lại với chính sách kinh tế “đóng”, nguồn vốn Nhà nước còn hạn hẹp nên cản trở phần nào đến phát triển đô thị, đến huy động sức đóng góp của cộng đồng và nhất là tạo áp lực cho kết cấu hạ tầng đô thị. Sau giai đoạn “đổi mới” nhiều thuận lợi cho đô thị hóa tăng nhanh, chuyển biến cả về số lượng và chất lượng nhang cũng thấy rõ áp lực quá lớn về kết cấu hạ tầng nhất là các đô thị đã có quá trình phát triển như: Hà Nội, Hải Phòng, TP.Hồ Chí Minh,…đó là:

- Cấu trúc dân cư đô thị có nhiều biến động

- Tốc độ đô thị hóa chậm với dân cư đô thị biến động do chiến tranh, quản lý dân cư đô thị có nhiều khó khăn, còn hiện tượng nông thôn hóa đô thị, phát triển không gian đô thị còn “tự phát” nhiều xóm liều, khu dân cư “chất lượng sống thấp” tác động nhiều đến môi trường và thấy rõ nhất là bất cập phát triển đô thị với hệ thống kết cấu hạ tầng.

- Phát triển đô thị đã hình thành các khu phát triển mới hiện đại, nhưng cũng thấy rõ chưa có sự hài hòa phát triển với quỹ bảo tồn di sản đô thị, mà ngày nay tạo lập bản sắc cho đô thị là tạo sức cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập.

Trong nhiều tồn tại như nêu trên thì với Hà Nội – đô thị lịch sử, là Thủ đô thách thức về kết cấu hạ tầng là vấn đề cần làm rõ. Đây cũng là vấn đề Nghị quyết 13/NQ-TW (hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng khóa XI_ đã xác định trong chiến lược phát triển KT – XH giai đoạn 2011 – 2020, đó là: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Khái niệm kết cấu hạ tầng ở đây được hiểu là toàn bộ cơ sở hạ tầng nền tảng đảm bảo cho phát triển KT – XH, bao gồm: kết cấu hạ tầng cứng là toàn bộ cơ sở hạ tầng vật chất; kết cấu hạ tầng mềm là hệ thống cơ chế chính sách; kết cấu hạ tầng xã hội là cơ sở để phát triển trực tiếp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường và kết cấu hạ tầng kinh tế là cơ sở hạ tầng trực tiếp cho phát triển kinh tế hệ thống giao thông, năng lượng, thông tin,…

Thách thức về kết cấu hạ tầng với Hà Nội là vấn đề đã được quan tâm trong cả quá trình phát triển và rõ nét là 60 năm từ sau hòa bình lập lại đến nay.  Nhìn lại quá trình này để thấy rõ bài học kinh nghiệm, thách thứ mới là rất cần.

Ngay từ những ngày đầu giải phóng, Nhà nước và chính quyền Thủ đô đã chú trọng cải thiện chỗ ở cho dân nghèo và ổn định chỗ ở cho CB – VC, từ các khi lao động chật trội, lầy lội, mất vệ sinh đã cải tạo xây dựng một số khu ở mới như: Tương Mai, An Dương, Phúc Tân… Giai đoạn 1954 – 1958 Hà Nội đã xây mới 5 vạn m2 nhà ở, gần 90 trường phổ thông được khôi phục, xây dựng mới, hệ thống công trình dịch vụ với các cửa hàng mậu dịch quốc doanh đã đóng góp lớn vào khôi phục kinh tế và ổn định duy trì đời sống dân cư.

Tháng 9/1959 Bộ Chính trị đã có Nghị quyết về Qui hoạch cải tạo, mở rộng thành phố Hà Nội. Để thực hiện định hướng này và chuẩn bị kế hoạch 5 năm (1960 – 1965), với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan đã giúp lập phương án quy hoạch phát triển Thủ đô với quy mô 1 triệu dân, xu hướng phát triển phía Bắc sông Hồng và không gian rộng lớn về phía Ba Vì và Sơn Tây. Tháng 11/1959 Bác Hồ đã xem xét quy hoạch và căn dặn sự cản trở đi lại của nhân dân. Phải có quy hoạch trước, tránh làm rồi lại phá đi. Năm 1961 Chính phủ đã phê duyệt qui hoạch tổng thể mặt bằng Thủ đô Hà Nội.

Một số khu công nghiệp được xây dựng mới như Thượng Đình, Minh Khai…đã tạo ra một cấu trúc mới cho đô thị góp phần phát triển kinh tế và cải thiện công ăn việc làm cho người lao động. Đặc biệt là một số khu nhà ở tập thể như: Kim Liên, Nguyễn Công Trứ…được xây dựng với những mô hình căn hộ xã hội chủ nghĩa và giải pháp kết cấu mới. Cùng việc xóa mỳ chữ, nhiều trường đại học lớn ra đời: Tổng hợp, Bách khóa, Sư phạm, Nông lâm…một số bệnh viện cũ được cải tạo nâng cấp, một số bệnh viện mới được ra đời như: Viêt Nam – Cu Ba, Y học dân tộc,… về kiến trúc công sở một số trụ sở cơ quan mới được xây dựng như khu liên cơ Vân Hồ, Tổng cụ Thống kê…

Trong giai đoạn này, sự kiện có ý nghĩa lớn là năm 1961 mở rộng địa giới Thủ đô Hà Nội lên 586km2 tạo tiềm năng mới để phát triển Hà Nội. Đến năm 1965 Hà Nội đã trở thành trung tâm công nghiệp lớn của miền Bắc. Diện mạo đô thị thay đổi lớn, nhất là nhà ở, công trình công cộng. Bước đầu hình thành mạng đường giao thông vành đai ven nội thành.

Khi cuộc chiến tranh ở miền Nam đã trở nên ác liệt, từ tháng 6/1966, Mỹ đánh phá trực tiếp vào Hà Nội, đặc biệt là trận bom rải thảm 12 ngày đêm tháng chạp 1972 công tác xây dựng gặp nhiều khó khăn và thách thức.

Ngay sau chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ thất bại. Nhiều xí nghiệp của Trung ương và địa phương Hà Nội bị đánh giá đã được xây dựng lại. Tháng 02/1973 cầu Long Biên được nối liền. Thành phố đã xây dựng mới và sửa chữa mở rộng gần 100 xí nghiệp, một số công trình giao thông quan trọng mới đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng: Cầu Đuống, Cảng Phà Đen, Sân bay Quốc tế Nội Bài…giữa thời kỳ đánh phá ác liệt của chiến tranh phá hoại thì Hà Nội lại bị đe dọa bởi thiên tai bão lụt (đợt tháng 8/1971 mực nước sông Hồng lên tới 12,5m). Trong bối cảnh như vậy rõ ràng, cần xem xét lại hướng phát triển của Thủ đô, điều chỉnh qui hoạch đã duyệt, đặc biệt xác lập sự gắn kết với khu vực xung quanh Sơn Tây, Xuân Mai. Nhiều phương án về luận chứng phát triển Thủ đô đã được nghiên cứu. Năm 1974 phương án chọn là khống chế Hà Nội với 40 vạn dân, phát triển Thủ đô lên Vĩnh Yên với 60 vạn dân. Khái niệm chùm đô thị Hà Nội đã được triển khai.

Năm 1975 thống nhất đất nước, cuộc chiến tranh chống Mỹ toàn thắng đã mở ra giai đoạn mới phát triển Hà Nội xứng tầm là Thủ đô. Các chuyên gia Liên Xô đã cùng chuyên gia Việt Nam nghiên cứu qui hoạch chung điều chỉnh. Hội đồng Chính phủ đã có quyết định phê quyệt số 163/CP ngày 17/7/1976 phê quyệt Qui hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2000 qui mô dân số là 1,5 triệu dân. Ngoại thành Hà Nội là vành đai xanh cung cấp thực phẩm, nơi bố tí các hoạt động văn hóa nghỉ ngơi, các công trình đầu mối giao thông và vành đai bảo vệ môi trường, các thành phố vệ tinh xung quanh Hà Nội làm chức năng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ du lịch, nghỉ mát: Xuân Mai – Sơn Tây – Ba Vì, Vĩnh Yên – Tam Đảo – Bắc Ninh. Với định hướng liên kết vùng như vậy tháng 12/1978 Chính phủ đã quyết định điều chỉnh lại ranh giới Hà Nội, sát nhập thêm Ba Vì, Phú Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức, Thị xã Sơn Tây, Hà Đông…Thủ đô Hà Nội có diện tích đất tự nhiên 2136Km2 với dân số 3,5 triệu người. Sau thống nhất đất nước diện mạo Hà Nội đã có bước chuyển biến mới đó là xây dựng các khu chung cư, khu nhà ở lớn như: Thành Công, Giảng Võ, Trung Tự, Thanh Xuân với cấu trúc “tiểu khu nhà ở XHCN” đồng bộ cơ sở hạ tầng. Mô hình căn hộ ở độc lập khép kín được thay thế mô hình “công xã” trước đây. Cùng với đa dạng về nhà ở là các công trình trường học, nhà trẻ, với kiến trúc hiện đại như: Trung Tự, Việt Nam – Cu Ba, Hà Nội – Amstecdam…các nhà hàng bách hóa Thanh Xuân, Viện Khoa học Việt Nam, nhà triển lãm Giảng Võ, ga hàng không Nội Bài…Năm 1979 chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, yêu cầu phát triển đô thị gắn với quan điểm an ninh quốc phòng một cách rõ ràng, cụ thể hơn. Hướng phát triển chủ điểm an ninh quốc phòng một cách rõ ràng, cụ thể hơn. Hướng phát triển chủ yếu cho Hà Nội là ở phía Nam sông Hồng. Các chuyên gia nước ngoài và chuyên gia Việt Nam đã phối hợp nghiên cứu điều chỉnh tổng mặt bằng qui hoạch Thủ đô tới năm 2000 bà phương án chọn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 100/TTg ngày 24/10/2981, theo đồ án qui hoạch này dân số Thủ đô nội thị là 1,5 triệu với qui mô đất xây dựng là 100km2, vùng ngoại thị được mở rộng với 11 huyện thị. Hệ thống giao thông đã được định hướng với 3 vùng vành đai và 6 trục xuyên tâm vào thành phố.

Ngày 21/01/1983 Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa V) ra nghị quyết 08/NQ – TW về công tác Thủ đô Hà Nội đã xác định: Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là trung tâm lớn về kinh tế và giao dịch quốc tế. Mặc dù có những khó khăn nhất định song đây cũng là thời kỳ tốc độ xây dựng đô thị nhất là nhà ở có những kết quả đáng kể. Thời kỳ 1981 – 1985 đã xây dựng được 45 vạn mét vuông nhà ở đồng bộ với hạ tầng xã hội. Năm 1986 Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường mối đổi mới kinh tế, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, kinh tế Thủ đô đã có nhiều khởi sắc. Trong đô thị nhiều yếu tố mới được xuất hiện đòi hỏi phải có sự điều chỉnh qui hoạch. Trong thời kỳ này đã có 2 đợt điều chỉnh. Quy hoạch được duyệt năm 1981 có nhiều khó khăn trong thực hiện kết cấu hạ tầng khung, đặc biệt là phải phá dỡ, giải phóng mặt bằng lớn để xây dựng các tuyến đường trục. Do vậy năm 1984 đã điều chỉnh về tổ chức không gian song vẫn giữ nguyên các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật. Qui hoạch điều chỉnh này là định hướng thực hiện cho đến 1992. Do mối quan hệ với vùng và cơ cấu đô thị nội thành ngoại thành; Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội khóa VIII kỳ 9 (12/1991), ranh giới Hà Nội được điều chỉnh và chuyển lại 7 huyện, thị về Hà Tây, Vĩnh Phúc. Với điều chỉnh này quy mô đất đai tự nhiên Hà Nội còn 924Km2. Tổng mặt bằng qui hoạch Thủ đô Hà Nội lại được nghiên cứu điều chỉnh và được phê duyệt tại Quyết định 132/CT ngày 18/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với định hướng phát triển chủ yếu về Nam sông Hồng. Cơ cấu tổ chức về quản lý xây dựng qui hoạch – được đổi mới.

Theo qui hoạch: qui mô dân số 2010 là 1,5 – 1,7 triệu dự phòng phát triển tới 2 triệu dân, đất dai sử dụng 7.600 – 9.000ha, dự phòng 120Km2. Trung tâm vẫn khẳng định là khu vực hồ Hoàn Kiếm, Ba Đình từng bước phát triển lên Hồ Tây. Khai thác triệt để hệ đường hướng tâm kết hợp với đường vành đai, hướng phát triển chủ yếu vẫn là ở hữu ngạn sông Hồng và dọc theo trục chính vào Thành phố, một phần phát triển ở tả ngạn sông Hồng và cũng dự báo chuẩn bị điều kiện và để phát triển sang Bắc sông Hồng đồng bộ, hiện đại.

Qua 6 năm thực hiện, bối cảnh trong nước và quốc tế đã có thay đổi, nhất là yêu cầu hội nhập đòi hỏi phải có điều chỉnh QHC. Các cơ quan tư vấn và chuyên gia Việt Nam chủ trì phối hợp với chuyên gia Nhật Bản, Mỹ đã nghiên cứu điều chỉnh QHC và đã được chính phủ phê duyệt tại Quyết định 108/QĐ-TTg ngày 20/6/1998. Qui hoạch lần này định hướng phát triển chủ yếu ở phía Tây, ưu tiên phát triển phía Bắc sông Hồng hình thành trung tâm Hà Nội mới. Quy mô dân số nội thành dự báo 2,5 triệu. Phát triển Thủ đô gắn với yêu cầu bảo tồn di sản, cảnh quan thiên nhiên, nâng cấp công trình phục vụ lợi ích công cộng, tạo thêm các khu giải trí cho nhân dân. Khớp nối cơ sở hạ tầng giữa phát triển mới với khu cải tạo và bảo tồn.

QHC lần này được định hướng chú trọng đến phát triển cả hai bên sông Hồng với mục tiêu xây dựng Hà Nội là Thành phố vừa dân tộc vừa hiện đại, đậm đà bản sắc và truyền thống ngàn năm văn hiến xứng đáng là Thủ đô của cả nước và có vị trí xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á và Thế giới. Để thực hiện rất cần có những đột phá về XD kết cấu hạ tầng nhất là giao thông nội đô, cấp thoát nước và liên kết 2 bên sông Hồng.

Quá trình thực hiện đã tạo lập được diện mạo mới cho Thủ đô, đó là gần 200 khu đô thị mới, khu công nghệ cao, các công trình kiến trúc mới hiện đại, công trình công cộng với qui mô lớn. Ngành CN – XD giai đoạn 2000 – 2005 đã đóng góp 45% cho tăng trưởng kinh tế nói chung. Bình quân mỗi năm xây dựng khoảng 1,0 đến 1,5 triệu m2 nhà ở. Những năm gần đây 2-3 triệu m2/năm. Bên cạnh kết quả cũng đã bộc lộ những tồn tại về áp lực dân số và hạ tầng kỹ thuật. tháng 8/2008 Hà Nội lại được điều chỉnh địa giới từ 924km2 lên 3344km2 (đô thị có qui mô lớn nhất nước) dân số 6,4 triệu trong đó dân số đô thị là 2,6 triệu (40%). Sau 2 năm nghiên cứu với tham gia, đóng gớp ý kiến của cộng đồng, các tổ chức tư vấn trong, ngoài nước. QHC được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 1259/QĐ – TTg ngày 26/7/2011. theo QHC mô hình cấu trúc không gian là chùm đô thị với dự báo dân số đến 2030 là 9,0 đến 9,2 triệu dân, đất xây dựng đô thị từ 18.000ha lên 94,700ha (28,3% đất tự nhiên) vào 2030. Đây là sự kiện lớn mở ra nhiều tiềm năng, động lực để Hà Nội phát triển với mục tiêu “Xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại và bền vững).

Trong tổ chức thực hiện, nhiều thách thức về kết cấu hạ tầng nói chung và hạ tầng kỹ thuật nói riêng được đặt ra, đó là:

- Định hướng phát triển công nghiệp: với mục tiêu công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, di dời các cơ sở công nghiệp không phù hợp trong nội thành, hình thành các Khu CN cao, công nghệ sinh học, chế biến nông sản hiện đại. Kiểm soát các làng nghề để có biện pháp bảo vệ môi trường.

- Về hệ thống giao thông rất cần được sự ưu tiên phát triển đồng bộ đáp ứng nhu cầu gia tăng về giao thông và phù hợp với mô hình cấu trúc chùm đô thị. Giao thông công cộng được giải quyết ưu tiên, chú trọng đến ách tắc trong nội đô.

- Vấn đề phòng chống lũ lụt được xem xét có tính đến tác động của biến đổi khí hậu.

- Cấp thoát nước: cải tạo, nâng cấp trong khu vực nội thành, các khu cũ, khu vực nông thôn.

- Xây dựng các khu xử lý chất thải rắn hiện đại với mạng lưới phù hợp với cấu trúc đô thị, xây dựng mạng lưới nghĩa trang hợp lý theo QH đã phê quyệt…

Thực hiện QHC lần này trong bối cảnh có Nghị quyết 11/Q-TW (2012) của Bộ Chính trị và Luật Thủ đô (2013)cùng với sự quyết tâm của Chính quyền, cộng đồng sẽ tạo động lực, tiềm năng mới để phát triển Thủ đô bền vững.
 

TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm, Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Hà Nội; Nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội  

Bài viết tại Hội thảo 60 năm giải phóng Thủ đô (3.10.2014)

Cập nhật ( 28/11/2014 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:

“Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là Tà.

Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính là người Thiện”.

 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K65
+ Kế hoạch "Thực tập cán bộ kĩ thuật đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Danh sách lớp nguyện vọng - Học kì 2 (2023-2024)
+ Nhiệm vụ thiết kế "Đồ án Kiến trúc 5 - K66" (2023-2024)
+ Phân công giảng dạy Bộ môn KTCN, Học kỳ 2, Năm học 2023 – 2024
+ Phân công giảng dạy HK3 (2023 - 2024)
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K64
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K64

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com